Những kinh nghiệm đi xe ô tô đường đèo

Khi tài xế, cánh “tài già” vẫn thường dặn nhau và hướng dẫn học trò một câu… rất không dễ hiểu rằng “Tài già, dép rọ, kính cong/Đi vào đường vòng cũng phải giảm ga”.

Sau vụ tai nạn xe khách tại Lào Cai đêm 1/9 khiến nhiều người chết và bị thương, nhều lái xe có hoặc có ít kinh nghiệm đi đèo núi bỗng giật thột tự hỏi, liệu điều khiển xe cẩn trọng ở địa hình khuất tầm nhìn đã đủ an toàn?

đường đèo

tài xế đường đèo phải khôn cùng cẩn thận.

Những kinh nghiệm tài xế trên đèo sau có thể bổ ích cho người điều khiển phòng tránh những tai nạn đáng tiếc.

Tìm hiểu địa hình

Trước mỗi chuyến đi, nên tìm hiểu trước cung đường sẽ sang trọng. Điều này sẽ giúp bạn có ý thức chuẩn bị các công cụ hỗ trợ cấp thiết ứng với loại địa hình ứng.

tai nạn xe khách đường đèo

Trước mỗi chuyến đi, nên tìm hiểu trước cung đường sẽ qua.

soát toàn xe

Đừng ngại và dành thời gian thẩm tra toàn xe, đặc biệt là hệ thống phanh, lốp và đèn báo trước khi đi và chuẩn bị băng đèo.

Nên dùng đèn chiếu sáng liên tục khi đang vận hành xe trên đèo, kể cả vào ban ngày. Trong điều kiện thời tiết có sương mù hay mưa phùn, đừng quên sử dụng đèn gầm. Nếu tầm nhìn hạn chế và xe không được trang bị đèn sương mù, nên dán giấy nylon màu vàng/đỏ vào đèn, điều này sẽ có lợi bởi tầm quan sát rõ hơn.

hồ hết các đèo ở Việt Nam đều có những góc cua gấp, mà lái xe sẽ không thể nhìn được trở ngại vật trước mặt. cho nên, tại những vị trí này, nên đi chậm phối hợp với bấm còi và nháy đèn pha để thông tin cho các công cụ giao thông khác, kể cả khi đường có cắm gương cầu quan sát.

Luôn ghi nhớ nguyên tắc “lên già – xuống non”

sử dụng số thích hợp với độ dốc của đèo, nếu số thấp quá có thể sẽ làm động cơ bị quá nhiệt thì số cao quá dễ làm mất kiểm soát. Ra vào số theo nguyên tắc “lên già – xuống non”, tức thị khi leo lên thì tăng số muộn hơn, còn khi đổ đèo thì về (xuống) số sớm hơn so với lúc điều khiển trên đường bằng. cụ giữ máy vận hành ở số thấp và “lên số nào – xuống số đó”.

lai xe đường đèo

dùng số ăn nhập với độ dốc của đèo.

Không nên rà phanh liên tục

Khi chạy ở nơi dốc núi, nhiều người có thiên hướng sử dụng phanh liên tiếp để hãm tốc độ. Tuy nhiên, đây lại là thói quen và kỹ năng lái không có lợi cho xe. Rà phanh liên tiếp sẽ khiến má phanh nóng, dẫn tới mất ma sát, có thể cháy may-ơ và làm giảm tác dụng của phanh.

Để hãm tốc độ xe khi đổ đèo, nên chau dồi kỹ năng dùng số phối hợp với phanh. Phanh hoạt động tốt nhất sau khi đã về số hoặc phải giảm tốc độ khẩn. Tuy nhiên, ngay cả khi phải dùng để giảm tốc độ cũng cần tránh phanh gấp, đặc biệt lúc xe đang vào góc nghiêng.

tụ hợp cao độ

tụ hợp điều khiển xe đi đúng làn đường cho phép, tránh lấn trái. Chỉ nên lấn làn tại những đoạn có kẻ sơn đường đứt đoạn và không có công cụ đi ngược chiều. Hạn chế tối đa việc vượt xe cùng chiều khi leo đèo nhất là những xe có trọng tải lớn. Nếu có ý định vượt xe khác trên đèo, nên chọn đoạn đường có tầm quan sát rộng, vượt dứt khoát, vượt xong phải cho xe sớm trở lại phần đường của mình. Hạn chế vượt lúc vào cua, trừ những góc cua trái có tầm quan sát rộng.

lái xe đường đồi

tập kết điều khiển xe đi đúng làn đường cho phép, tránh lấn trái.

Không nên bám sát xe phía trước, giữ khoảng cách an toàn và phòng trường hợp phanh gấp. Khi leo đèo quá dốc, toàn đá hoặc bùn trơn nên kiếm dây thừng quấn vào bánh xe để tăng độ ma sát. thế tránh tuyệt đối việc dừng xe ở những góc khuất trên đèo. Trong trường hợp bất khả kháng do xe hỏng, thì phải có biện pháp cảnh báo cho các xe khác ở trước khúc cua.

để ý khi lái xe đường đèo dốc vào mùa mưa

Khi đi đèo vào mùa mưa lũ, nên Chú ý các đoạn đường vách núi cao. nếu có hiện tượng nước màu đỏ gạch chảy qua đường, thì nên lưu ý đoạn đường đó rất dễ bị sạt lở do đất đá đã no nước và dễ có hiện tượng lũ bùn.

Chú ý từ xa những bụi nhỏ, đá con rơi xuống từ vách núi, nếu các loại đá bụi này rơi từ vựng trí càng cao càng hiểm nguy bởi đó là hiện tượng sạt lở, cây cối đổ, sạt ta-luy,… Trong những trường hợp này phải đi thật chậm để quan sát và nếu quá hiểm nguy thì nên quay đầu xe để giữ an toàn.

Những lưu ý cho người đi đường

Đối với người đi đường, khi bắt gặp sự cố hoặc tai nạn trên đường, việc dừng lại hỗ trợ nạn nhân là cần thiết và hợp với đạo lý. Tuy nhiên, tuyệt đối không nên dừng xe đột ngột, cần từ từ giảm tốc độ rồi dừng xe để giúp các nạn nhân. Đừng bao giờ vô cảm bỏ mặc nạn nhận và đứng xem giữa đường.

Để xuống đèo, dốc an toàn, ta nên tùy độ dốc thực tại của con dốc, tình trạng địa lý, tình trạng địa hình, tình trạng tham gia giao thông mà quyết định sẽ để cần số ở vị trí nào. Tốc độ an toàn của xe số sàn khi xuống dốc là tốc độ mà người lái vẫn làm chủ được khi xuống dốc mà ít phải dùng phanh – xuống dốc bằng số là chủ yếu. Và hãy luôn luôn làm chủ tốc độ, vì đây là nguyên tố đẵn để bạn có một chuyến đi an toàn.

Bảo quản máy lạnh ô tô hiệu quả nhất

Mùa hè đến, máy lạnh xe hơi lại trở nên vấn đề hot trên từng cây số của những người dùng phương tiện giao thông. Cũng giống như sự bất thường của thời tiết, hệ thống này trên xe hơi thường có những sự cố thất thường khiến cho người ngồi chẳng hề cảm thấy dễ chịu trong không khí oi bức.

Automotive Air Conditioning-o-to-bien-hoa-dong-nai-2

Trong một số trường hợp, khách hàng hoàn toàn có thể tự xử lý hoặc nếu đưa xe đến các trọng tâm dịch vụ tin cậy thì phí cũng rất thấp. Tuy nhiên, nếu đưa xe đến các địa chỉ không tin cậy, ham lợi thì có thể khách hàng sẽ bị mất rất nhiều tiền. Thay vào đó, chủ xe có thể tham khảo những thông tin dưới đây để “bắt bệnh” chiếc máy lạnh trên xe và có những biện pháp xử lý kịp thời:

1. Hệ thống điều hoà vẫn làm việc thông thường nhưng không mát hoặc rất yếu

Lúc này có hai tình huống xảy ra. Thứ nhất là với xe còn mới, được bảo dưỡng bảo trì tốt, thì hầu hết các trường hợp này xảy ra là do bộ lọc gió của hệ thống điều hoà đã bị tắc. Trong quá trình sử dụng xe, tuỳ điều kiện địa hình vận hành, bụi bẩn dần dần bám vào lưới lọc, nhiều quá sẽ kết tảng dày (ảnh) khiến cho gió bị quẩn trong dàn lạnh mà không vào được ca-bin xe.

Cách duy nhất để khắc phục là vệ sinh tấm lưới lọc. Trên các dòng xe du lịch đương đại vô lăng thuận, tấm lưới lọc này thường nằm bên trong hốc được bố trí sâu trong hộp đựng găng. Có trường hợp chỉ cần mở hộp bao tay, cậy nắp hốc lọc gió là có thể lấy được lưới lọc, có trường hợp phải tháo cả nắp hộp mới có thể thao tác. Dùng súng sịt hơi để thổi sạch bụi bẩn bám trên tấm lưới rồi lắp lại bình thường. Tấm lưới cần được vệ sinh hàng tháng, thậm chí hàng tuần nếu xe thẳng được sử dụng ở những nơi nhiều bụi bặm như công trường, đường đất…
Với các loại xe đã qua dùng lâu năm thì duyên cớ có thể phức tạp hơn thế rất nhiều. Đó có thể là do dây cua-roa dẫn động lốc máy lạnh bị trùng và trượt. Tiếp đó, hệ thống có thể bị hao ga do các đường ống bị lão hoá, rò rỉ hoặc các gioăng bị hở. Với các cảnh huống này, chủ xe cần mang xe đến các trọng điểm sang sửa chuyên nghiệp để được xử lý bằng thiết bị máy móc chuyên dùng.

2. Hệ thống máy lạnh vẫn làm việc thường ngày, có mát nhưng không sâu

Về trường hợp này, nguyên cớ cũng có thể là do xảy ra các sự cố như trường hợp thứ nhất nhưng ở mức độ nhẹ. Nhưng còn có một nguyên cớ nữa cũng không kém phần quan trọng mà chủ xe có thể tự xử lý ở một chừng độ nhất quyết trên nhiều dòng xe, đó là dàn nóng và dàn lạnh bị bẩn. Dàn nóng bẩn sẽ toả nhiệt kém làm giảm hiệu quả làm mát của dung môi (ga), còn dàn lạnh bị bẩn sẽ khiến không khí lạnh không lan toả được ra xung quanh để lùa vào khoang xe.

Với các dòng xe mà dàn nóng được bố trí thông thoáng phía trước của khoang máy, chủ xe cần đề nghị vệ sinh bằng nước hoặc kết hợp hoá chất chuyên dùng trong quá trình rửa xe. Để làm mướn việc này được hoàn hảo, người rửa xe cũng cần có chuyên môn để không làm ảnh hưởng đến các hệ thống trong khoang máy, đặc biệt là hệ thống điện. Việc vệ sinh dàn lạnh đòi hỏi phải được tiến hành bởi các kỹ thuật viên có tay nghề thực sự, bởi việc vệ sinh bộ phận này tương đối phức tạp.

3. Hệ thống máy lạnh sau khi được bảo dưỡng và bổ sung thêm ga thì hầu như bị thua và không hề mát

thường ngày, áp suất trong hệ thống máy lạnh được điều chỉnh ở chừng độ nhất định. Quá trình bổ sung ga nếu được tiến hành ở những địa chỉ yếu kém về chuyên môn sẽ chẳng thể kiểm soát được xác thực thông số áp suất ga. Trên nhiều dòng xe, nếu ga bị nạp quá nhiều, van an toàn sẽ tự động xả hết ga để bảo vệ hệ thống. Mất hoàn toàn áp suất, lốc điều hoà sẽ ngừng hoạt động.

Để khắc phục sự cố này, chủ xe chỉ còn cách mang xe đến các trọng tâm coi ngó uy tín để được giúp đỡ.

4. Hệ thống điều hoà làm việc thông thường nhưng có mùi khó chịu

Đây có lẽ là thắc mắc chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những chủ xe gặp vấn đề về máy lạnh ôtô. nguyên do của tình trạng này gồm cả khách quan và chủ quan. nguyên do khách quan là do hệ thống thông gió mát vào trong khoang xe (gồm dàn lạnh, lưới lọc gió, quạt gió, các cửa gió và cảm biến nhiệt độ dàn lạnh) đã bị bẩn hoặc bị trục trặc. nguyên cớ chủ quan có thể là người dùng xe để ca-bin bị bẩn lâu ngày với các tạp chất như mồ hôi, rác, mùi thuốc lá, mùi nước hoa, mùi thức ăn… bám cặn trong các ngóc ngách của nội thất xe. Khi máy lạnh hoạt động và lùa gió vào cabin, các tạp chất đó sẽ thừa cơ bốc ra.

Với tình trạng này, chủ xe cần tiến hành thu dọn cabin xe, vệ sinh lưới lọc gió và phối hợp với các trung tâm chăm nom xe để loại bỏ các căn nguyên khách quan cũng như chủ quan bằng các hoá chất vệ sinh nội thất ôtô chuyên dùng.

Viết tắt của ô tô gồm những từ sau

Thuật ngữ ôtô là từ viết tắt để biểu lộ những tính năng luôn đổi mới và càng ngày càng hiện đại của ôtô thời nay. Bài viết sau giới thiệu một số thuật ngữ ôtô mới có thể bạn chưa biết.

2wd-4wd-awd-xe-o-to-viet-tat

ABS – Anti-lock Brake System: Hệ thống chống bó cứng phanh tự động.
A/C – Air Conditioning: Hệ thống điều hòa nhiệt độ trên xe
AFL – Adaptive Forward Lighting: Đèn pha mở dải chiếu sáng theo góc lái. Công nghệ do Opel cộng tác với Hella phát triển cho các xe của Opel vào năm 2002.
ARTS – Adaptive Restrain Technology System: Hệ thống điện tử kích hoạt túi khí theo những thông số cài đặt trước tại thời khắc xảy ra cụng.
AWD – All Wheel Drive: Hệ dẫn động 4 bánh chủ động toàn thời gian (đa phần cho xe gầm thấp). Ví dụ: Audi A6, Subaru Impreza.
AWS – All Wheel Steering: Hệ thống lái cho cả 4 bánh. Công nghệ này không được ứng dụng rộng rãi, chỉ vận dụng trên một số xe như Mazda 626, 929 đời 1991 trở lên, Mitsubishi Galant VR-4 1991 – 1995 và mới đây mới nhất là Infiniti G35 2007.

BA – Brake Assist: Hệ thống tương trợ phanh gấp.
BHP – Brake Horse Power: Đơn vị đo công suất thực của động cơ đo tại trục cơ.
Boxer; Flat engine: Động cơ với các xi-lanh nằm ngang đối xứng với góc 180 độ. Kiểu động cơ truyền thống của Volkswagen, Porsche và Subaru.

Cabriolet: Kiểu xe hai cửa mui trần. Mercedes Benz dùng cabriolet cho các loại xe hai cửa mui trần mềm và roadster cho loại xe 2 cửa mui trần cứng.
CATS – Computer Active Technology Suspension: Hệ thống treo điện tử tự động điều chỉnh độ cứng theo điều kiện vận hành. Mỗi nhà sản xuất có cách gọi khác nhau, CATS là tên gọi của Jaguar.
C/C hay ACC – Cruise Control: Kiểm soát hành trình. Hệ thống đặt tốc độ nhất mực trên đường cao tốc.
C/L – Central Locking: Hệ thống khóa trọng tâm.
Concept; concept car: Một chiếc xe hơi hoàn chỉnh nhưng chỉ được thiết kế để trưng bày, chưa được đưa vào dây chuyền sản xuất.
Coupe: Từ thông dụng chỉ kiểu xe thể thao hai cửa bốn chỗ mui cứng.
Crossover hay CUV, Chữ viết tắt của thứ tiếng Anh “Crossover Utility Vehicle”: Loại xe việt dã có gầm khá cao nhưng trung tâm xe lại thấp vì là biến thể của xe sedan gầm thấp sát-xi liền khối và xe việt dã sát xi rời. Dòng xe này có gầm cao để vượt địa hình nhưng khả năng vận hành trên đường trường tương đối giống xe gầm thấp. thí dụ: Hyundai Santa Fe, Chevrolet Captiva…vv.
CVT: Continuosly Variable Tranmission: Hộp số biến thiên vô cấp, sử dụng trên một số xe như Nissan Murano, Mitsubishi Lancer.

DOHC – Double Overhead Camshafts: Cơ cấu cam nạp xả với hai trục cam phía trên xi-lanh. tỉ dụ động cơ 1.8 2ZR-FE của Toyota Corolla từ năm 1997 đến nay hay động cơ của Honda Civic 2.0 tại Việt Nam
Drift: Kỹ thuật chủ động làm trượt văng đuôi xe, với góc trượt ở phía sau xe lớn hơn góc trượt phía trước, góc lái ngược với hướng đi của xe. Để có thể “drift”, người lái phải nắm vững các kỹ thuật đua xe cơ bản, có khả năng thực hành nhanh và nhuần nhuyễn các thao tác sang số-nhả số, phối hợp với xử lý chân ga-côn-phanh nhạy bén.
Drophead coupe: Từ cũ, xuất hiện từ những năm 1930, chỉ mẫu xe mui trần hai cửa; có thể mui cứng hoặc mềm. Tại châu Âu từ ngang tức thị Cabriolet.

EBD – Electronic Brake Distribution: Hệ thống phân phối lực phanh điện tử.
EDM – Electric Door Mirrors: Gương điều khiển điện.
ESP – Electronic Stability Programe: Hệ thống ổn định xe điện tử.
E/W – Electric Windows: Hệ thống cửa xe điều khiển điện
ESR – Electric Sunroof: Cửa nóc vận hành bằng điện.

FWD – Front Wheel Drive: Hệ dẫn động cầu trước.
FFSR – Factory Fitted Sunroof: Cửa nóc do nhà sinh sản thiết kế và lắp đặt (khác After Market Parts, đồ bán sẵn trên thị trường).

Heated – Front Screen: Hệ thống sưởi kính trước.
HWW – Headlamp Wash/Wipe: Hệ thống gạt/rửa đèn pha.

IOE – Intake Over Exhaust: Kết cấu động cơ với cửa nạp hòa khí nằm phía trên cửa xả.
I4; I6: Kiểu động cơ 4 hoặc 6 xi-lanh xếp thẳng hàng.

MDS – Multi Displacement System: Hệ thống dung tích xi lanh biến thiên, cho phép động cơ vận hành với 2, 4 ,6… xi-lanh tùy theo tải trọng và tốc độ của xe. Công nghệ này do Chrysler phát triển và áp dụng cho mẫu xe Chrysler 300C; giờ Honda Accord 2008 cũng dùng công nghệ này với tên gọi VCM.
Minivan: Kiểu xe 6 đến 8 chỗ có ca-bin kéo dài – không nắp ca-pô trước, không có cốp sau; tỉ dụ: Daihatsu Cityvan.
MPG – Miles Per Gallon: Số dặm đi được cho 4,5 lít nhiên liệu.
MPV – Multi Purpose Vehicle: Xe đa dụng.

LPG Liquefied Petroleum Gas: Khí hóa lỏng.
LSD – Limited Slip Differential: Bộ vi sai chống trượt.
LWB – Long Wheelbase: Chiều dài cơ sở lớn.

OHV – OverHead Valves: Kiểu thiết kế động cơ cũ với xu-páp bố trí trên mặt máy và trục cam ở dưới tác động vào xu-páp qua các tay đòn – đũa xu-páp. Ví dụ: động cơ 1.8 7K của Toyota Zace.
OTR – On The Road (price): Giá trọn gói.

PAS – Power Assisted Steering: Hệ thống lái có trợ lực.
PDI Pre – Delivery Inspection: soát trước khi bàn giao xe.
Pick-up: Xe bán tải, kiểu xe gầm cao 2 hoặc 4 chỗ có thùng chở hàng rời phía sau ca-bin. Ví dụ: Ford Ranger, Isuzu Dmax.

Roadster: Kiểu xe hai cửa, mui trần và chỉ có 2 chỗ ngồi. Mercedes Benz dùng từ này cho loại 2 cửa mui trần cứng; tỉ dụ: Mercedes Benz SLK.
RWD – Rear Wheel Drive: Hệ thống dẫn động cầu sau.

SAE: Chữ viết tắt của mực tiếng Anh “Society of Automotive Engineers”: Hiệp hội Kỹ sư ô tô Mỹ – Tổ chức nghiên cứu và xác lập các quy chuẩn chuyên ngành ô tô uy tín số 1 của Mỹ.
Satellite Radio: Radio thu tín hiệu qua vệ tinh.
Sedan: Xe hơi gầm thấp 4 cửa, 4 chỗ ngồi, ca-pô và khoang hành lý thấp hơn ca-bin. tỉ dụ: Toyota Camry, Honda Accord, Daewoo Lacetti…vv.
Service History: Lịch sử bảo dưỡng.
SOHC – Single Overhead Camshafts: Kết cấu trục cam đơn trên mặt máy và một trục cam tác động đóng/mở cả xu-páp xả và nạp. tỉ dụ động cơ của Honda Civic 1.8 tại Việt Nam.
SUV – Sport Utility Vehicle: Kiểu xe thể thao việt dã có sát-xi rời với thiết kế dẫn động 4 bánh để có thể vượt qua địa hình xấu. tỉ dụ: Toyota Land Cruiser, Mitsubishi Pajero..vv.
SV – Side Valves: Cơ cấu xu-páp đặt song song với xi-lanh bên sườn động cơ.
Super-charge: Tăng áp sử dụng máy nén khí độc lập.
ABS-1400X1050.
Turbo: Tăng áp của động cơ sử dụng khí xả làm quay cánh quạt.
Turbodiesel: Động cơ diesel có thiết kế tăng áp truyền thống dùng khí xả làm quay cánh quạt. Các loại xe sử dụng turbo tăng áp này thường có độ trễ lớn, Ví dụ: Ford Everest, Isuzu Hi-Lander…vv.

Van: Xe chở người hoặc hàng hóa từ 7 đến 15 chỗ. tỉ dụ: Ford Transit.
VCM – Variable Cylinder Management: Hệ thống điều khiển dung tích xi lanh biến thiên, cho phép động cơ vận hành với 2, 4 ,6… xi-lanh tùy theo trọng tải và tốc độ của xe. Xuất hiện lần đầu trên xe Honda Accord, Honda Odyssey model 2005, bây giờ đã có thêm Honda Pilot dùng công nghệ này.
VGT – “Variable Geometry Turbocharger”: Tăng áp dùng turbo điều khiển cánh cho khả năng loại bỏ độ trễ của động cơ diesel truyền thống. Công nghệ này áp được áp dụng cho xe Hyundai Santa Fe, Daewoo Winstorm…vv.
VNT – “Variable Nozzle Turbine”: Như VGT.
CRDi – Common Rail Direct Injection: Hệ thống phun nhiên liệu trực tiếp điều khiển điện tử sử dụng đường dẫn chung của động cơ diesel. Có mặt trên các xe đời mới như Hyundai Veracruz, Santa Fe hay Daewoo Winstorm.
VSC – Vehicle Skid Control: Hệ thống kiểm soát tình trạng trượt bánh xe.
VTEC – Chữ viết tắt tiếng Anh của “Variable valve Timing and lift Electronic Control”: Hệ thống phối khí đa điểm và kiểm soát độ mở xu-páp điện tử. VTEC là công nghệ áp dụng trên các xe của Honda và thế hệ mới có tên i-VTEC: “Inteligent – VTEC”.
VVT-i – Variable Valve Timing with Intelligence: Hệ thống điều khiển xu-páp với góc mở biến thiên sáng dạ. sử dụng trên các xe của Toyota như Camry, Altis…vv.
V6; V8: Kiểu động cơ 6 hoặc 8 xi-lanh có kết cấu xi-lanh xếp thành hai hàng nghiêng, góc nghiêng giữa hai dãy xi-lanh hay mặt cắt cụm máy tạo hình chữ V.
WD, 4×4 – Four Wheel Drive: Dẫn động bốn bánh chủ động. tỉ dụ: Toyota Land Cruiser, Mitsubishi Pajero.
Thế giới ngày một đương đại thành thử chúng ta cần luôn luôn học hỏi để lái xe an toàn cho chính bản thân và gia đình bạn